CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Chín nghị quyết trụ cột – Một khát vọng vươn mình
08/05/2026 17:00265 Lượt xem

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với khát vọng đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, yêu cầu đổi mới thể chế được đặt ra nhằm tạo bước đột phá để khơi thông các “điểm nghẽn” thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn. Việc Bộ Chính trị ban hành chín Nghị quyết quan trọng trong giai đoạn 2024 - 2026 đã hợp thành “chín nghị quyết trụ cột” thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Những nghị quyết này không chỉ giải quyết các vấn đề riêng lẻ, mà còn tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ, phản ánh tư duy phát triển toàn diện: từ “quản lý” sang “phục vụ”, từ “bảo hộ” sang “cạnh tranh sáng tạo”, từ “hội nhập bị động” sang “hội nhập chủ động”, từ “cải cách phân tán” sang “đột phá toàn diện, đồng bộ và sâu sắc”. Đây là bước chuyển tư duy căn bản, kế thừa thành tựu đổi mới 40 năm qua và phù hợp với xu thế toàn cầu trong kỷ nguyên số.
 

Ảnh: Sưu tầm

 
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị quán triệt toàn quốc ngày 18/5/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, bốn Nghị quyết (Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng Đảng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân) là “bộ tứ trụ cột” để giúp chúng ta cất cánh. Bốn Nghị quyết lớn của Bộ Chính trị đã cùng tạo nên một chỉnh thể thống nhất về tư duy và hành động chiến lược cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Mặc dù mỗi Nghị quyết tập trung vào một lĩnh vực trọng yếu, chúng liên kết chặt chẽ, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình quán triệt và tổ chức thực hiện. Cả bốn Nghị quyết đều thống nhất mục tiêu: Xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
 
Gần 4 tháng sau, tại Hội nghị quán triệt toàn quốc các Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 16/9/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục chỉ rõ, ba Nghị quyết (Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân) là những Nghị quyết chuyên đề, tiếp nối và bổ sung mạnh mẽ cho "Bộ tứ Nghị quyết" chiến lược, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mũi đột phá để hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm, xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, trường tồn và bền vững. Tổng Bí thư chỉ rõ, động lực phát triển mới của đất nước hình thành từ chính các mối liên kết hữu cơ giữa các Nghị quyết. Hội nhập quốc tế là cánh cửa vươn ra thế giới; Năng lượng ổn định và xanh là điều kiện cần cho sản xuất, cho trường học, bệnh viện; Giáo dục - đào tạo chất lượng cao cung cấp đội ngũ kỹ sư hệ thống, bác sĩ, nhà quản trị dịch vụ công tương lai; Y tế hiện đại, dự phòng vững, chăm sóc tốt giúp người dân khỏe mạnh để học, để làm, để sáng tạo. Những trụ đỡ này được củng cố đồng thời bằng thể chế thông suốt, kỷ luật thực thi nghiêm, dữ liệu dẫn dắt và phân bổ nguồn lực thông minh. Khi từng bánh răng vận hành đúng nhịp, cỗ máy phát triển quốc gia sẽ tăng tốc bền bỉ.
Đầu năm 2026, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện hai Nghị quyết (Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam) sáng 25/2/2026, Tổng Bí thư tiếp tục khẳng định bên cạnh những Nghị quyết đã ban hành trước đó, hai Nghị quyết mới là sự bổ sung thêm những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường "nội lực vật chất" và củng cố "nội lực tinh thần". Khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, năng động, hiệu quả gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Điểm đặc biệt của chín nghị quyết chiến lược này là sự kết hợp hài hòa giữa nền tảng lý luận vững chắc và yêu cầu cấp thiết của thực tiễn. Các nghị quyết đều dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, đồng thời vận dụng sáng tạo kinh nghiệm phát triển của thế giới. Quan trọng hơn, chúng xuất phát từ những đòi hỏi bức thiết của đất nước: Nâng cao năng suất lao động, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, đáp ứng khát vọng phát triển của nhân dân và yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo đang biến đổi thế giới từng ngày. Đây là bước tiến lớn trong tư duy chiến lược, thể hiện rõ năng lực lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới.
 

Ảnh: Sưu tầm

 
Chín nghị quyết chuyên đề được Bộ Chính trị ban hành không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong nắm bắt xu thế vận động của thời đại, mà còn thể hiện rõ tư duy phát triển chiến lược, toàn diện, có chiều sâu và có tầm nhìn dài hạn của Đảng ta trong giai đoạn bản lề chuyển đổi mô hình tăng trưởng và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Chín nghị quyết được định vị như những trụ đỡ thống nhất trong một chỉnh thể thể chế phát triển hiện đại, có tính tương hỗ, liên kết hữu cơ và cộng hưởng sức mạnh, góp phần định hình “mạch nguồn thể chế” cho kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những mục tiêu đột phá.
- Nghị quyết số 57-NQ/TW: đột phá quan trọng hàng đầu đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
- Nghị quyết số 59-NQ/TW: Hội nhập quốc tế là động lực chiến lược để Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới
Nghị quyết số 59-NQ/TW xác định mục tiêu tổng quát là nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ và toàn diện của quá trình hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và phát triển nhanh, bền vững…
Mục tiêu cụ thể là: Hội nhập kinh tế quốc tế; Hội nhập quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh; Hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục-đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác; Nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị hội nhập quốc tế.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW: đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi. Cụ thể là, năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật; năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước; năm 2028, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến và phù hợp với thực tiễn đất nước; nhất quán, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; quản trị quốc gia hiện đại với bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.
- Nghị quyết số 68-NQ/TW: Cú hích thể chế cho kinh tế tư nhân cất cánh
Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Đồng thời, yêu cầu xóa bỏ định kiến, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, doanh nhân làm lực lượng nòng cốt để thực hiện công cuộc phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân, đóng góp 55-58% GDP, giải quyết 84%-85% việc làm xã hội. Tầm nhìn đến 2045 là xây dựng khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, cạnh tranh toàn cầu và thực sự trở thành trụ cột của nền kinh tế độc lập, tự chủ.
- Nghị quyết số 70-NQ/TW: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng cho sự phát triển đất nước
Nghị quyết số 70-NQ/TW nêu rõ mục tiêu đến năm 2030 là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, cung cấp đủ và ổn định cho phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái. Ngành năng lượng sẽ phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ, thông minh, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là tổng cung năng lượng sơ cấp đạt 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; công suất nguồn điện đạt 183-236 GW với sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh; tỷ lệ năng lượng tái tạo chiếm 25-30% tổng cung; độ tin cậy cung cấp điện đạt tiêu chí hàng đầu ASEAN; tỷ lệ tiết kiệm năng lượng từ 8-10% và giảm phát thải khí nhà kính từ 15-35% so với kịch bản thông thường. Tầm nhìn đến năm 2045, ngành năng lượng Việt Nam phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, có thị trường cạnh tranh minh bạch, hệ thống hạ tầng hiện đại, thông minh, kết nối hiệu quả với khu vực và quốc tế, chất lượng nhân lực và trình độ công nghệ ngang bằng các nước công nghiệp phát triển.
- Nghị quyết số 71-NQ/TW: Khai thông điểm nghẽn, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á; ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi và giáo dục bắt buộc đến hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành bậc trung học phổ thông, không có tỉnh, thành phố nào dưới 60%; tỷ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%; tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%…
Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Đến năm 2035, hoàn thành phổ cập trung học phổ thông, nâng chỉ số giáo dục đóng góp vào HDI lên trên 0,85, có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 100 trường hàng đầu thế giới. Tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng, chất lượng, nằm trong nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới...
- Nghị quyết số 72-NQ/TW: Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là mục tiêu, là động lực, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu
Nghị quyết số 72-NQ/TW đặt mục tiêu nâng cao thể lực, trí lực, tầm vóc và tuổi thọ khỏe mạnh của nhân dân. Đến năm 2030, tăng chiều cao trung bình của trẻ em và thanh thiếu niên từ 1-18 tuổi thêm tối thiểu 1,5cm; tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, trong đó số năm sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Tỷ lệ tiêm chủng các vắc-xin trong Chương trình tiêm chủng thiết yếu đạt trên 95%.
Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình. Đến năm 2026, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số, đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới môi trường sống chất lượng, hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi, số năm sống khỏe mạnh trên 71 năm, tầm vóc, thể lực ngang bằng các nước phát triển.
- Nghị quyết số 79-NQ/TW: Phát huy vai trò chủ đạo, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới
Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó, mục tiêu tổng quát là: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2030, Quản lý, khai thác, huy động và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại; ưu tiên hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, kết nối liên vùng và quốc tế. Phấn đấu tỷ lệ huy động nguồn ngân sách giai đoạn 2026-2030 khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; tỷ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách; mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030. Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị…
- Nghị quyết số 80-NQ/TW: Phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết 80-NQ/TW xác định mục tiêu tổng quát là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện và thống nhất trong đa dạng; con người Việt Nam có đạo đức, nhân cách, lối sống lành mạnh, ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội.
Đến năm 2030, văn hóa từng bước trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững; hệ thống thiết chế văn hóa cơ bản được củng cố; đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân được nâng cao; môi trường văn hóa lành mạnh được hình thành từ gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị và cộng đồng.
Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng nền văn hóa Việt Nam phát triển toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc; văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ngày càng rõ nét vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia.
 

Ảnh: Sưu tầm

 
Điểm cốt lõi làm nên sức mạnh và tầm vóc của “chín nghị quyết trụ cột” chính là tính chỉnh thể thống nhất, thể hiện qua sự liên thông, bổ trợ và cộng hưởng sâu sắc giữa các lĩnh vực mang tính nền tảng và đột phá. Không một nghị quyết nào trong số chín nghị quyết mang tính tách biệt, mà đều được kiến tạo trên cơ sở tương hỗ. Sự thống nhất về mục tiêu, sự liên kết về nội dung và tính đột phá trong từng nghị quyết đã tạo nên một nền tảng vững chắc để Việt Nam cất cánh, vươn mình, bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế tự tin, chủ động và đầy khát vọng./.
 
N.T.Y

Liên kết