Kinh nghiệm quốc tế về phát triển công nghiệp an ninh – một số gợi mở đối với lực lượng Công an nhân dân
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, robot và công nghệ lưỡng dụng đang làm thay đổi sâu sắc nội hàm công nghiệp an ninh. Năng lực bảo vệ an ninh quốc gia không chỉ phụ thuộc vào số lượng trang thiết bị, mà còn ở khả năng làm chủ dữ liệu, tích hợp hệ thống, cập nhật phần mềm và bảo đảm chuỗi cung ứng. Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp của Việt Nam năm 2025 xác định đây là ngành đặc thù của công nghiệp quốc gia, bao gồm nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, sửa chữa, cải tiến và hiện đại hóa sản phẩm, dịch vụ phục vụ quốc phòng, an ninh. Vì vậy, kinh nghiệm quốc tế cần được nhìn nhận như kinh nghiệm xây dựng một hệ sinh thái công nghệ, không đơn thuần là tổ chức nhà máy hoặc tăng chi tiêu mua sắm.
I. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP AN NINH
Trên thế giới, phát triển công nghiệp an ninh luôn được các quốc gia quan tâm triển khai thực hiện trong những năm qua. Việc này được Chính phủ các nước giao các cơ quan an ninh, cảnh sát chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành phù hợp với từng giai đoạn.
1. Hoa Kỳ
Chương trình Silicon Valley Innovation Program của Bộ An ninh nội địa cho phép doanh nghiệp khởi nghiệp trong và ngoài Hoa Kỳ nhận tối đa 2 triệu USD tài trợ không làm pha loãng cổ phần trong 24 tháng để phát triển mẫu thử cho nhiệm vụ an ninh nội địa. Dự án được chia thành các giai đoạn ngắn, giải ngân theo kết quả và có thể dừng nếu giải pháp không đạt yêu cầu. Cách làm này cho phép thử nhiều phương án với chi phí được kiểm soát, đồng thời buộc cơ quan đặt hàng nêu rõ tiêu chí như độ chính xác, thời gian xử lý, mức độ an toàn và khả năng tích hợp với hệ thống hiện có[1].
Doanh nghiệp chỉ đầu tư kỹ sư, phòng thí nghiệm và dây chuyền khi có thể dự báo nhu cầu trong vài năm tới. Vì vậy, chính sách công nghiệp của Hoa Kỳ được gắn với kế hoạch mua sắm và bảo đảm nguồn cung. Chiến lược Công nghiệp quốc phòng quốc gia đầu tiên của Hoa Kỳ tập trung vào chuỗi cung ứng có khả năng chống chịu, nguồn nhân lực, mua sắm linh hoạt và an ninh kinh tế. Thực tế này cho thấy một nền công nghiệp lớn vẫn có thể gặp khó khăn nếu phụ thuộc vào một nhà cung cấp, thiếu năng lực sản xuất hàng loạt hoặc mất quá nhiều thời gian để đưa công nghệ mới vào sử dụng[2].
2. Israel
Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển quốc phòng Israel quản lý từ nghiên cứu nền tảng đến phát triển hoàn chỉnh và hợp tác với hơn 300 doanh nghiệp khởi nghiệp.[3] Doanh nghiệp nhỏ có thể trực tiếp cung cấp thuật toán, cảm biến và phần mềm; mẫu sản phẩm được thử trong điều kiện vận hành rồi sửa theo phản hồi của người dùng. Năm 2024, giá trị xuất khẩu quốc phòng của Israel đạt hơn 14,7 tỷ USD.[4] Số liệu này cho thấy khả năng đưa công nghệ ra thị trường, nhưng bài học thực tế quan trọng hơn là cách Israel nối liền bốn khâu: đặt yêu cầu, làm mẫu, thử nghiệm và sản xuất. Mô hình này vẫn cần được tham khảo có chọn lọc vì điều kiện an ninh và quy mô thị trường của Israel rất đặc thù.
3. Singapore
Cơ quan Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Nội vụ (HTX) tại Singapore có nhiệm vụ triển khai các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng các sản phẩm công nghệ phục vụ các công tác phòng chống tội phạm, xuất nhập cảnh, phòng cháy, chữa cháy, quản lý trại giam và an toàn công cộng. Thông qua trung tâm Hatch và chương trình Dimension X, HTX đưa doanh nghiệp khởi nghiệp vào thử nghiệm với các bài toán thực tế. Năm 2025, 11 doanh nghiệp được chọn từ hơn 270 hồ sơ toàn cầu; mỗi doanh nghiệp nhận 100.000 đô la Singapore để phát triển và trình diễn mẫu thử. Singapore không cố tự chế tạo mọi linh kiện mà tập trung nắm dữ liệu, kiến trúc tích hợp, quy trình kiểm thử và quyền thay thế nhà cung cấp.[5]

Ảnh: Trình diễn giải pháp robot trong chương trình đổi mới mở Dimension X của HTX Singapore. Nguồn: Home Team Science and Technology Agency (Singapore), 2025 (website:htx.gov.sg).
4. Các quốc gia trong Liên minh châu Âu
Chiến lược Công nghiệp quốc phòng châu Âu đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 40% hoạt động mua sắm được tiến hành theo hình thức hợp tác, thương mại nội khối đạt tối thiểu 35% giá trị thị trường và ít nhất 50% ngân sách mua sắm dành cho cơ sở công nghiệp của EU. Các mục tiêu này nhằm tạo đơn hàng đủ lớn, dùng chung tiêu chuẩn và giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Một sản phẩm có nhiều linh kiện sản xuất trong nước nhưng vẫn phải dùng mã nguồn hoặc công cụ cập nhật độc quyền từ nước ngoài thì chưa thể coi là tự chủ đầy đủ.[6]
Như vậy, từ nghiên cứu kinh nghiệm phát triển công nghiệp an ninh của một số quốc gia cho thấy: Đa phần các quốc gia xác định công nghiệp an ninh không thể chỉ vận hành trong phạm vi một vài cơ sở nhà nước; những phần liên quan đến bí mật, dữ liệu nhạy cảm và chức năng đặc biệt phải được bảo vệ chặt chẽ; còn các phần như cảm biến, phần mềm, vật liệu, robot hoặc công cụ phân tích có thể giao cho doanh nghiệp và trường đại học tham gia theo từng nhiệm vụ cụ thể; nhà nước nêu yêu cầu và tiêu chuẩn; doanh nghiệp làm mẫu; đơn vị sử dụng trực tiếp thử nghiệm; cơ quan độc lập đánh giá kết quả. Quy trình này giúp loại sớm sản phẩm không đạt yêu cầu và đưa nhanh giải pháp phù hợp vào sử dụng.
II. MỘT SỐ GỢI MỞ ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP AN NINH VÀ ĐỊNH VỊ VAI TRÒ CỦA HỌC VIỆN KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ AN NINH
1. Một số gợi mở đối với lực lượng Công an nhân dân về phát triển công nghiệp an ninh
Việt Nam đã có khung pháp lý để tổ chức lại hoạt động công nghiệp an ninh. Luật số 119/2025/QH15 bổ sung Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh và Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia; Nghị định số 60/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về thành phần và tổ chức hoạt động của Tổ hợp. Công việc cần làm tiếp theo là chuyển các quy định này thành danh mục nhiệm vụ, đơn vị chịu trách nhiệm, nguồn kinh phí, thời hạn hoàn thành và quy trình kiểm thử. Nếu Tổ hợp chỉ dừng ở việc tập hợp các đơn vị hiện có mà không có cơ chế giao việc, đánh giá và đặt hàng chung, kết quả thực tế sẽ khó thay đổi.[7]
Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia nên phân việc theo mức độ nhạy cảm. Cơ sở nòng cốt thực hiện hệ thống mật, quản lý dữ liệu và tích hợp sản phẩm hoàn chỉnh. Doanh nghiệp công nghệ, viễn thông và sản xuất có thể nhận các gói việc về phần mềm, thiết bị, vật liệu hoặc hạ tầng. Doanh nghiệp nhỏ, phòng thí nghiệm và trường đại học tham gia những bài toán có thể tách riêng và cung cấp dữ liệu thử nghiệm đã được xử lý. Bộ Công an đã xác định năm nhóm trọng tâm gồm an toàn, an ninh mạng; dữ liệu lớn phục vụ chuyển đổi số; kỹ thuật nghiệp vụ; phòng cháy, chữa cháy và sản phẩm phát hiện, cảnh báo, phòng ngừa sớm nguy cơ an ninh, trật tự. Mỗi nhóm cần được cụ thể hóa thành sản phẩm, tính năng và tiêu chí kiểm tra rõ ràng.[8]
Việc chuyển Tổng công ty GTEL thành đơn vị trực thuộc Bộ Công an vào tháng 5/2026 tạo ra một đầu mối đủ quy mô để nhận các nhiệm vụ lớn. GTEL chỉ phát huy vai trò đầu tàu khi đặt hàng cho các viện, trường và doanh nghiệp khác; công bố tiêu chuẩn kỹ thuật; hình thành mạng lưới nhà cung cấp; và tiếp nhận sản phẩm mới vào hệ thống chung. Khâu kiểm thử, chứng nhận cần có mức độ độc lập nhất định. Nếu một đơn vị vừa đưa ra yêu cầu, vừa sản xuất, vừa tự đánh giá thì khó phát hiện đầy đủ lỗi kỹ thuật và chi phí phát sinh.[9]
Sản phẩm dùng sinh trắc học, phân tích hành vi, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn phải được kiểm tra bằng tình huống cụ thể trước khi triển khai rộng. Cơ quan quản lý cần biết dữ liệu được lấy từ đâu, tỷ lệ nhận sai, người được quyền truy cập, nội dung ghi nhật ký và đơn vị chịu trách nhiệm khi xảy ra sự cố. Yêu cầu về an toàn dữ liệu và khả năng kết nối phải được đưa vào hồ sơ thiết kế ngay từ đầu. Đây là điều kiện để sản phẩm được sử dụng lâu dài và có đủ độ tin cậy khi cung cấp ra ngoài lực lượng Công an nhân dân.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy công nghiệp an ninh chỉ tạo ra kết quả khi nhu cầu nghiệp vụ được giao thành nhiệm vụ cụ thể, có người chịu trách nhiệm, có mẫu thử, có đơn vị sử dụng kiểm tra và có kinh phí duy trì. Việt Nam đã có nền tảng pháp lý và các đầu mối ban đầu. Giai đoạn tới cần chọn đúng công nghệ phải làm chủ, giao nhiệm vụ rõ, mở phần việc phù hợp cho doanh nghiệp và viện, trường, đồng thời đánh giá bằng hiệu quả sử dụng thực tế.
2. Định vị vai trò của Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh trong phát triển công nghiệp an ninh
Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh là cơ sở giáo dục đào tạo thuộc Bộ Công an được Đảng ủy Công an Trung ương và Lãnh đạo Bộ Công an xác định xây dựng trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghiệp an ninh ngang tầm khu vực, trở thành nôi đào tạo nhân lực bảo đảm chủ quyền số, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin không chỉ trong Công an nhân dân mà cả hệ thống chính trị, phục vụ đắc lực phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược của đất nước.
Để đạt được mục tiêu này, thời gian qua Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các giải pháp nhằm nhanh chóng đưa Học viện trở thành cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt. Ngày 03/7/2026, Học viện và Tổng công ty GTEL ký kết hợp tác về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; trong đó có an ninh mạng, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, viễn thông và sản phẩm công nghiệp an ninh.[10] Để hợp tác tạo ra sản phẩm cụ thể, mỗi nhiệm vụ nên bắt đầu từ yêu cầu của đơn vị nghiệp vụ; Học viện xây dựng phương án kỹ thuật và môi trường thử nghiệm; doanh nghiệp phối hợp chế tạo mẫu; sau đó đơn vị sử dụng đánh giá và phản hồi. Cách làm này thực tế hơn việc chỉ dừng ở đề tài nghiên cứu hoặc biên bản hợp tác, đồng thời giúp học viên được tiếp cận thiết bị và bài toán đang sử dụng trong lực lượng.

Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh và Tổng công ty Công nghệ - viễn thông toàn cầu GTEL ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác.
Trong quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp an ninh, Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh cần được định vị không chỉ là cơ sở đào tạo chuyên ngành kỹ thuật của lực lượng Công an nhân dân, mà còn là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu, thử nghiệm và kết nối công nghệ phục vụ trực tiếp cho các nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự. Với lợi thế về đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, hệ thống phòng thí nghiệm và khả năng tiếp cận yêu cầu nghiệp vụ, Học viện có điều kiện tham gia vào nhiều khâu của quá trình phát triển sản phẩm, từ đào tạo nhân lực, nghiên cứu giải pháp, chế tạo mẫu thử đến đánh giá, hoàn thiện và chuyển giao công nghệ.
Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh giữ vai trò quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao phục vụ phát triển công nghiệp an ninh. Thông qua các chương trình đào tạo chính quy, bồi dưỡng chuyên sâu và cập nhật kiến thức mới, Học viện góp phần cung cấp đội ngũ cán bộ có năng lực về công nghệ thông tin, an ninh mạng, điện tử, viễn thông, trí tuệ nhân tạo và các lĩnh vực kỹ thuật có liên quan. Việc gắn nội dung đào tạo với yêu cầu thực tiễn của các đơn vị nghiệp vụ và doanh nghiệp công nghệ giúp nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào công tác.
Trong hoạt động khoa học và công nghệ, Học viện có điều kiện tham gia nghiên cứu, xây dựng mô hình, phần mềm và sản phẩm thử nghiệm phục vụ trực tiếp công tác bảo đảm an ninh, trật tự. Các kết quả nghiên cứu có thể tập trung vào những lĩnh vực phù hợp với chức năng đào tạo như bảo vệ hệ thống thông tin, phân tích dữ liệu, kỹ thuật điện tử, viễn thông, an toàn thông tin và hỗ trợ xử lý chứng cứ số. Hoạt động này vừa phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo, vừa tạo cơ sở để phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp trong hoàn thiện và ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Học viện còn là địa điểm phù hợp để tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, tọa đàm và workshop về công nghệ, kỹ thuật và công nghiệp an ninh. Những hoạt động này tạo diễn đàn trao đổi giữa cán bộ quản lý, chuyên gia, giảng viên, nhà khoa học, đơn vị nghiệp vụ và doanh nghiệp; đồng thời giúp cập nhật xu hướng công nghệ, giới thiệu kết quả nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối các bên có nhu cầu hợp tác. Đây cũng là kênh thiết thực để các vấn đề phát sinh trong thực tiễn được trao đổi và tiếp cận dưới góc độ khoa học, kỹ thuật.
Trong hợp tác quốc tế, Học viện có vai trò mở rộng quan hệ với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và đối tác công nghệ nước ngoài thông qua trao đổi chuyên gia, bồi dưỡng giảng viên, tổ chức hội thảo, workshop và thực hiện các hoạt động nghiên cứu chung. Những hoạt động hợp tác này góp phần cập nhật tri thức, phương pháp đào tạo và kinh nghiệm nghiên cứu, qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực khoa học, công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp an ninh.
Với những lợi thế về đào tạo, nghiên cứu và kết nối chuyên môn, Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh có vị trí phù hợp trong hệ sinh thái phát triển công nghiệp an ninh. Vai trò này được thể hiện rõ qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ thuật; nghiên cứu một số sản phẩm, giải pháp gắn với chức năng chuyên môn; tổ chức hội nghị, hội thảo, workshop; và mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong và ngoài nước. Qua đó, Học viện góp phần bổ sung nguồn nhân lực, tri thức và các kết quả khoa học phục vụ quá trình xây dựng nền công nghiệp an ninh theo hướng hiện đại, tự chủ và gắn với yêu cầu thực tiễn.
Toàn Đức, Khoa Nghiệp vụ cơ bản
[1] U.S. Department of Homeland Security, “Silicon Valley Innovation Program”. Website: dhs.gov.
[2] U.S. Department of Defense, “DOD Releases First Defense Industrial Strategy”, ngày 11/01/2024. Website: defense.gov.
[3] Israel Ministry of Defense, “Mafat for Startups”. Website: ddrd-mafat.mod.gov.il.
[4] Israel Ministry of Defense, “Israel Sets New Record in Defense Exports: Over $14.7 Billion in 2024”, ngày 03/6/2025. Website: mod.gov.il.
[5] Home Team Science and Technology Agency, “How Dimension X Cohort 5 start-ups are building the next generation of public safety tech”, ngày 08/8/2025. Website: htx.gov.sg.
[6] European Commission, “European Defence Industrial Strategy”, ngày 05/3/2024. Website: defence-industry-space.ec.europa.eu.
[7] Quốc hội, Luật số 119/2025/QH15 ngày 10/12/2025; Chính phủ, Nghị định số 60/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026. Website: vanban.chinhphu.vn.
[8] Bộ Công an, “Công tác Công an thực hiện 3 mục tiêu chiến lược của Đảng”, ngày 21/01/2026. Website: mps.gov.vn.
[9] Bộ Công an, “Ra mắt Tổng công ty Công nghệ - Viễn thông Toàn cầu (GTEL) trực thuộc Bộ Công an”, ngày 13/5/2026. Website: mps.gov.vn.
[10] Bộ Công an, “Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh ký kết quy chế phối hợp với Tổng công ty Công nghệ - Viễn thông toàn cầu GTEL”, ngày 04/7/2026. Website: mps.gov.vn.