Mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng giai đoạn hiện nay
1. Đặt vấn đề
Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, có những dòng chảy êm đềm nhưng cũng có những dòng chảy dữ dội, trào dâng, bất tận, đó là thứ ánh sáng tư tưởng không bao giờ tắt. Nó không chỉ soi rọi trong quá khứ, mà còn dẫn đường chỉ lối cho tương lai. Với cách mạng Việt Nam, ánh sáng ấy chính là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hai dòng tư tưởng lớn không tách rời nhau mà hoà quyện vào nhau, tạo nên một mối quan hệ biện chứng, gắn bó máu thịt, một sự cộng hưởng vĩ đại và làm nên nền tảng lý luận vững chắc cho Đảng cộng sản Việt Nam. Mối quan hệ biện chứng sâu sắc ấy không chỉ là sự tiếp nối mà còn là sự thăng hoa, tạo nên một nền tảng tư tưởng vững chắc bảo vệ Đảng trước bối cảnh thế giới nhiều biến động như hiện nay, khi mà những làn sóng tư tưởng đa chiều không ngừng va đập thì việc nhận diện và khẳng định mối quan hệ biện chứng thiêng liêng này trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một phương thức bảo vệ ngọn cờ lý tưởng của Đảng giữ vững phương hướng cho con thuyền cách mạng Việt Nam giữa biển lớn của thế giới.
.jpg)
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (hình ảnh minh hoạ)
2. Nội dung
2.1. Triết học Mác - Lênin là nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh
Triết học Mác - Lênin là sản phẩm kết tinh vĩ đại của tinh thần phản biện khoa học và khát vọng giải phóng con người, đóng vai trò nền tảng và phương pháp luận biện chứng - cơ sở của tư duy cách mạng sáng tạo, thế giới quan duy vật biện chứng - nền tảng nhận thức hiện thực. Nó không chỉ phân tích sâu sắc bản chất của thế giới vật chất, xã hội và tư duy, mà còn vạch ra con đường để giai cấp vô sản - lực lượng tiên phong trong lịch sử - thực hiện sứ mệnh lịch sử vĩ đại của mình là xóa bỏ áp bức, bất công và xây dựng một xã hội không có người bóc người lập nên một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam không chỉ về lý luận, mà còn là cẩm nang hành động cho các đảng cộng sản trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Triết học Mác - Lênin trang bị cho Hồ Chí Minh một thế giới quan duy vật biện chứng, nhìn nhận thế giới hiện thực một cách khách quan, khoa học, là cơ sở để Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan cách mạng và xác định con đường phát triển cho dân tộc. Hồ Chí Minh tiếp cận với Chủ nghĩa Mác - Lênin qua “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Người mới thực sự tìm thấy con đường cứu nước thật sự cho cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động. Ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Đây là cái mà ta cần, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(1). Với sự tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin giúp Hồ Chí Minh thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm tôn giáo để hướng đến con đường lý tưởng mà người đã lựa chọn để giải phóng dân tộc.
Triết học Mác - Lênin là kết tinh của tinh thần biện chứng sống động, của khát vọng giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích bất công, nó là bản giao hưởng của lý trí và trái tim, của khoa học và cách mạng. Trên hành trình tìm đường cứu nước cho dân tộc, Hồ Chí Minh với bản lĩnh trí tuệ và tầm nhìn vượt thời đại của một con người mang hồn dân tộc, Người đã tiếp thu ngọn lửa triết học ấy một cách linh hoạt sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước bằng cả trái tim cháy bỏng và tình yêu nồng ấm dành cho nhân dân. Người không rập khuôn máy móc những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mà điều chỉnh, phù hợp với truyền thống văn hoá của người Việt. Vì thế, ta bắt gặp chủ nghĩa duy vật biện chứng được vận dụng mềm mại trong từng bước đi, trong từng quyết sách. Ta thấy chủ nghĩa duy vật lịch sử lắng sâu trong nhận thức về vai trò của quần chúng nhân dân, về sức mạnh của lòng yêu nước được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Người từng viết: “Chủ nghĩa Lênin… không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(2).
Người tin vào giá trị chân lý của học thuyết này một cách đanh thép, hùng hồn nhưng đầy tính văn thơ. Tư tưởng Hồ Chí Minh vì thế không tách rời mà chính là sự phát triển sáng tạo, sâu sắc của Triết học Mác - Lênin trong bối cảnh Việt Nam, mang đậm tính nhân văn, gần gũi với quần chúng, coi trọng đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết dân tộc và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Thông qua lăng kính yêu nước của Hồ Chí Minh thì Triết học Mác - Lênin đã trở thành linh hồn trong lý tưởng sống, trong hành động cách mạng đạo đức của Người, trở thành một hệ tư tưởng độc đáo, vừa mang tính dân tộc sâu sắc, vừa mang tầm vóc thời đại. Trong một thế giới đầy biến động thì Triết học Mác - Lênin không chỉ là nền tảng tư tưởng cơ sở lý luận vững chắc, mà là ngọn lửa bất diệt soi đường cho thế hệ người Việt trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, là điểm tựa tinh thần để đất nước vươn mình bay xa.
2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Một là, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo Triết học Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Hồ Chí Minh đã tiếp thu một cách có chọn lọc và phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là triết học để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam lên một tầm cao mới. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại, là khoa học lý luận về sự vận động và phát triển của lịch sử tiến hoá của loài người, thì tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn đuốc rực rỡ giữa đêm dại lịch sử, với tâm hồn Việt Nam và tầm nhìn thời đại chính là sự phát triển sinh động, sinh sâu nhất từ tinh thần biện chứng của Triết học Mác - Lênin, tiếp biến và nâng tầm những nguyên lý ấy trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người không giáo điều, không rập khuôn máy móc mà đã thổi hồn vào cách mạng Việt Nam với những luồng gió mới bằng hơi thở lí luận của thực tiễn đấu tranh với lòng yêu nước nồng nàn và trái tim khát vọng độc lập cho nhân loại.
Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá tư tưởng cách mạng của Triết học Mác - Lênin là giải phóng dân tộc - đây là điều kiện đầu tiên để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội giàu mạnh, văn minh. Người nói “Dân tộc độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(3). Với câu nói này đã khẳng định được giá trị của độc lập tự do của lý tưởng nhân đạo, là minh chứng cho sự tiếp thu và phát triển tinh thần Triết học Mác - Lênin một cách đầy nhân văn, đầy tính dân tộc và thời đại trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Về lực lượng của cách mạng, Hồ Chí Minh, vận dụng một cách linh hoạt tư duy biện chứng của Triết học Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, những người sáng tạo nên lịch sử của dân tộc. Ở Người, không chỉ nói đến giai cấp công nhân như trong tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác mà mở rộng, bao trùm hơn tạo nên một sức mạnh tổng hợp mới đó là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi tầng lớp từ nông dân, trí thức, công nhân, đến cả doanh nhân yêu nước dưới ngọn đuốc soi sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh đều được khơi dậy tinh thần yêu nước, cùng tắm mình vào dòng chảy cách mạng không ngừng nghỉ như muôn con suối hội tụ về biển lớn độc lập, tự do và hạnh phúc.
Hai là, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất trong nhận thức và hành động để bảo vệ nền tảng tư tưởng như giữ gìn mạch sống đất nước. Ngày nay, trong sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch đang từng ngày, từng giờ xuyên tạc tấn công vào thành trì của Đảng ta thì mối quan hệ giữa nhận thức và hành động ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh trong hoạt động cách mạng Người luôn nhấn mạnh vai trò của hành động “nói đi đôi với làm”, “xây đi đôi với chống”, hiểu lý luận để hành động đúng đắn, khoa học. Do đó, chúng ta mới đủ sức để nhận diện và đập tan những âm mưu và những luận điệu sai trái của kẻ thù đang ngày càng len lỏi tinh vi hơn trong đời sống của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh, với chiều sâu lý luận của Triết học Mác - Lênin và sức mạnh từ thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam, nó đã trở thành vũ khí sắc bén để vạch trần bản chất phản động, xuyên tạc lệch lạc của những quan điểm phiến diện phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, của con đường xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân ta đã lựa chọn đi theo, gieo rắc hoài nghi và chia rẽ nội bộ, tinh thần đoàn kết của đồng bào. Dù dưới hình thức nào, có mang lớp vỏ “tự do ngôn luận” hay “dân chủ kiểu mới” thì những thủ đoạn tinh vi ấy, đều không thể che đậy được một chân lý vĩnh cửu, trường tồn theo năm tháng mà Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có Đảng thì không có cách mạng, không có độc lập, không có tự do”(4).
Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là vũ khí lý luận sắc bén mà còn là ngọn lửa truyền cảm hứng cách mạng trong hành trình xây dựng và củng cố niềm tin, đó là thứ sức mạnh vô hình nhưng có khả năng lay chuyển mọi thử thách để dẫn đến thành công. Với tinh thần yêu nước bất khuất, lòng nhân ái sâu sắc, tư duy thực tiễn sắc bén cho đến bản lĩnh chính trị vững vàng, tư tưởng Hồ Chí Minh là bản giao hưởng hài hòa giữa trí tuệ phương Tây và tâm hồn phương Đông để tạo nên một tư tưởng độc đáo mang tính nhân văn sâu sắc. Tư tưởng của Người lấy độc lập - tự do - hạnh phúc của nhân dân làm đích đến tối cao, nó là nơi ươm mầm lý tưởng cho thế hệ trẻ, lớp Đảng viên ưu tú noi theo. Với những lời giảng dạy nhẹ nhàng mà sâu sắc uyên thâm, từ tấm gương đạo đức đến phong cách sống, ánh sáng tư tưởng của Người giúp soi rọi cho chúng ta trước mọi cám dỗ để kiện định trước mọi thử thách trong cuộc sống để rồi dù ở đâu thì mỗi người vẫn vươn mình vươn mình hướng về ánh sáng tư tưởng của Đảng như cây cối vươn mình về phía mặt trời đơm hoa kết trái cho những trái ngọt cho đời.
Chính vì lẽ đó, mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự giao thoa giưa trí tuệ nhân loại và hồn thiêng của đất Việt. Mối quan hệ này không tách rời, không phủ định nhau mà bổ sung, nâng đỡ và phát triển lẫn nhau. Có thể khẳng định, Triết học Mác - Lênin Là “gốc rễ” lý luận của Đảng, thì tư tưởng Hồ Chí Minh là “cành lá xanh tươi” vươn lên từ mảnh đất Việt Nam. Nếu Triết học Mác - Lênin cung cấp nền tảng lý luận và phương pháp luận khoa học, thì tư tưởng Hồ Chí Minh lại cụ thể hóa, dân tộc hóa những nguyên lý ấy, biến nó thành sức mạnh tinh thần, thành hành động cách mạng thực tiễn của dân tộc Việt Nam trong suốt thế kỷ XX và tiếp tục phát huy giá trị trong thời đại ngày nay. Ngày nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì mối quan hệ này càng trở nên quan trọng và sống còn hơn bao giờ hết. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là sứ mệnh lịch sử với tinh thần đoàn kết cao cả của tất cả mọi người. Nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chìa khoá để củng cố niềm tin, định hướng hành động và truyền cảm hứng cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Hồ Chí Minh với trí tuệ tài ba và tâm hồn cao cả đã “Việt Nam hoá” Chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những giá trị nhân văn, giản dị mà sâu sắc: Lòng yêu thương con người nồng ấm, bao dung, với đạo đức cách mạng cần - kiệm - liêm - chính - chí công vô tư… Đó chính là sợi dây nối liền giữa lý luận và thực tiễn, giữa cái cao cả của triết thuyết và cái đời thường của cuộc sống nhân loại.
2.3. Giải pháp phát huy mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng giai đoạn hiện nay
Việc nhận thức sâu sắc và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong cuộc đấu tranh và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Đó chính là chìa khoá để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, là kim chỉ nam giúp mỗi cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường chính trị, không lung lay dao động, trước mọi thử thách của bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và các luồng thông tin đa chiều. Do vậy, việc kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhiệm vụ then chốt, quan trọng của toàn dân tộc, giúp bảo vệ bản sắc của dân tộc, đảm bảo sự trường tồn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đã lựa chọn.
Một là, cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu lý luận một cách toàn diện, sâu sắc, đồng thời cập nhật thường xuyên các nội dung của Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội ngày nay. Mặt khác, việc khẳng định ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng này phải gắn liền với đời sống thực tiễn, tránh giáo điều, lý thuyết suông chỉ quan tâm đến hình thức mà bỏ qua nội dung. Việc giảng dạy, truyền thông, báo chí cần đổi mới phương thức tiếp cận để lý luận của Triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở nên gần gũi, sinh động, dễ tiếp cận với mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay thông minh, hoạt bát dễ tiếp cận với những luồng gió mới của thời đại.
Hai là, nâng cao trình độ nhận thức về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên về sự kế thừa và phát triển về mối quan hệ biện chứng này. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo học thuyết của Triết học Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Do đó, mỗi người phải tự nhận thức được việc học tập lý luận phải trở thành nhu cầu tự thân, học tập suốt đời, việc trau dồi kiến thức là hành trang chính trị không thể thiếu của mỗi cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại mới. Cần thường xuyên đào tạo, mở các lớp học bồi dưỡng lý luận chính trị, hội thảo khoa học để đi sâu phân tích và làm rõ những giá trị kế thừa và phát triển mang tính cách mạng, phù hợp với từng đối tượng, trình độ và vị trí công tác của mỗi cán bộ, đảng viên trước những làn sóng đa chiều hiện nay.
Ba là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách khoa học, thuyết phục và kịp thời. Bởi vì, trong bối cảnh các thế lực thù địch không ngừng gia tăng hoạt động chống phá dưới nhiều hình thức tinh vi, đặc biệt là trên không gian mạng với nhiều thủ đoạn xuyên tạc đường lối của Đảng thì việc đấu tranh tư tưởng phải được tiến hành khoa học, có cơ sở lý luận vững chắc và lập luận thuyết phục sắc sảo, đội ngũ chuyên gia, tri thức lý luận bản lĩnh sắc bén, biết ứng dụng công nghệ hiện đại để chủ động phát hiện, vạch trần bản chất xuyên tạc, phản động của các luận điệu thù địch. Cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, mạng xã hội trong việc truyền tải những thông tin chính xác, những lập luận chặt chẽ tạo ra sự lan toả mạnh mẽ, hấp dẫn những giá trị tư tưởng của Đảng trong xã hội.
Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng để nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí cách mạng và niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Ngày nay, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng không chỉ là cuộc chiến của của lý luận với phi lý luận, của chân lý với xuyên tạc - mà còn là cuộc chiến của niềm tin. Do đó, “xây” tức là xây dựng, củng cố niềm tin, đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và khát vọng phát triển hoà bình của dân tộc - phải đi đôi với việc “chống” - tức là kiên quyết lên án, loại bỏ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi sai trái, lệch lạc với chuẩn mực của xã hội. Đây là một quy luật tất yếu để chúng ta bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách bền lâu, công tác tư tưởng này đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động kiến tạo một môi trường văn hoá chính trị lành mạnh góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
3. Kết luận
Mối quan hệ biện chứng giữa triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng hiện nay chính là trụ cột tinh thần vững chắc, là dòng huyết quản chảy trong từng quyết sách, chiến lược của cách mạng Việt Nam. Việc nhận thức đúng đắn, vận dụng linh hoạt sáng tạo mối quan hệ này không chỉ là lý luận mà còn là nhiệm vụ thực tiễn cấp bách. Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị và trí tuệ để toàn Đảng, toàn dân ta vững vàng bước trên con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Nguyễn Ái Quốc (2005), Đường cách mệnh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2005, tr.23.
(2) Hồ Chí Minh, (2001), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.461.
(3) Hồ Chí Minh, (2001), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.64.
(4) Hồ Chí Minh (1953), Thường thức chính trị, Nxb. Sự thật.
Vũ Văn Huân