Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh: Phát huy nguồn lực, giữ vững kỷ luật, góp phần phát triển đất nước.
Ngày 14/10/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh, thay thế Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006. Nếu quy định năm 2006 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi thừa nhận, cho phép đảng viên tham gia kinh tế tư nhân, thì Quy định mới tiếp tục làm rõ hơn quyền, giới hạn, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên. Điểm đáng chú ý là Quy định số 224-QĐ/TW không đặt ra sự lựa chọn giữa phát triển kinh tế và giữ vững kỷ luật của Đảng, mà hướng tới thực hiện đồng thời hai yêu cầu: tạo điều kiện để đảng viên phát huy năng lực, làm giàu bằng hoạt động hợp pháp; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng tư cách đảng viên, chức vụ, quyền hạn hoặc nguồn lực công để thu lợi bất chính. Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa thực tiễn đối với cả phát triển kinh tế và công tác xây dựng Đảng.

Ảnh: Toàn cảnh bế mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (Nguồn ảnh: https://vov.vn/chinh-tri/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-quan-triet-6-chuyen-de-cua-hoi-nghi-trung-uong-4-khoa-xiv-post1341339.vov)
1. Từ cho phép tham gia đến tạo điều kiện phát huy nguồn lực
Quy định số 224-QĐ/TW ra đời trên cơ sở kế thừa những kết quả đạt được và đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn. Sau 20 năm thực hiện Quy định số 15-QĐ/TW, nhiều đảng viên là doanh nhân, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh và người quản lý doanh nghiệp đã đóng góp vào phát triển sản xuất, tạo việc làm, thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tham gia các hoạt động xã hội. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư, kinh doanh ngày càng đa dạng; quan hệ sở hữu, quyền chi phối, quản lý và hưởng lợi cũng phức tạp hơn, đòi hỏi quy định quản lý phải cụ thể và phù hợp hơn.
Điểm mới nổi bật là chuyển mạnh từ cách tiếp cận chủ yếu xác định việc gì được phép, việc gì bị cấm sang khuyến khích, tạo điều kiện để đảng viên phát huy nguồn lực chính đáng trong khuôn khổ rõ ràng. Quy định phân biệt các nhóm hoạt động theo mức độ tham gia; xác định quyền và giới hạn phù hợp với vị trí, chức trách, nhiệm vụ và nguy cơ xung đột lợi ích; đồng thời chú trọng thực chất quyền chi phối, quản lý, điều hành và lợi ích kinh tế, thay vì chỉ căn cứ vào người đứng tên sở hữu. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực tế trong đội ngũ đảng viên có những người sở hữu vốn, tri thức, kinh nghiệm quản lý, năng lực chuyên môn và khả năng sáng tạo. Nếu được tạo điều kiện phù hợp, các nguồn lực ấy có thể chuyển hóa thành hoạt động sản xuất, kinh doanh, sản phẩm, công nghệ và việc làm. Ngược lại, quy định thiếu rõ ràng có thể khiến người có năng lực e ngại, còn tổ chức thực hiện dễ thiếu thống nhất, nơi hạn chế quá mức, nơi kiểm soát chưa chặt chẽ.

Ảnh minh hoạ: Nguồn: https://vov.vn/chinh-tri/quy-dinh-so-224-qdtw-ve-dang-vien-tham-gia-hoat-dong-dau-tu-kinh-doanh-post1341781.vov
Vì vậy, tạo điều kiện không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý; quản lý chặt chẽ cũng không có nghĩa là hạn chế tràn lan. Một quy định hiệu quả phải giúp đảng viên biết rõ quyền của mình, giới hạn cần tuân thủ và trách nhiệm phải chịu khi vi phạm. Đây chính là điểm tiến bộ trong cách tiếp cận: nhìn nhận hoạt động đầu tư, kinh doanh không chỉ từ nguy cơ cần kiểm soát, mà còn từ khả năng đóng góp cho phát triển đất nước.
2. Làm giàu chính đáng không đối lập với trách nhiệm của người đảng viên
Làm giàu bằng lao động, tri thức, đầu tư hiệu quả và sáng tạo là nhu cầu chính đáng. Một người sử dụng năng lực của mình để phát triển sản xuất, tạo việc làm, cung cấp sản phẩm có ích, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và chăm lo quyền lợi người lao động không chỉ tạo dựng cuộc sống cho bản thân, gia đình mà còn đóng góp cho xã hội. Không thể đồng nhất hoạt động ấy với chủ nghĩa cá nhân hay xem việc tham gia kinh doanh là điều đối lập với phẩm chất người đảng viên.
Điều cần phân biệt không phải là đảng viên có làm kinh tế hay không, mà là làm kinh tế bằng cách nào, tạo ra lợi ích gì và thực hiện trách nhiệm ra sao. Làm giàu bằng năng lực, lao động, đổi mới sáng tạo và tuân thủ pháp luật cần được tôn trọng; làm giàu bằng tham nhũng, lợi dụng chức vụ, chiếm dụng tài sản công, trốn tránh nghĩa vụ hoặc gây thiệt hại cho người khác phải bị ngăn chặn, xử lý nghiêm minh. Tư cách đảng viên không thể trở thành lợi thế để giành những ưu đãi không chính đáng trong kinh doanh. Chức vụ, quyền hạn được giao là để thực hiện nhiệm vụ chung, không phải phương tiện tạo lợi thế cho bản thân, gia đình hoặc nhóm lợi ích. Đảng viên không được sử dụng quan hệ công tác để tác động trái quy định đến việc cấp phép, phân bổ nguồn lực, lựa chọn nhà thầu, thanh tra, kiểm tra hoặc quyết định những vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế của mình. Bởi vậy, khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng không làm giảm yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức và kỷ luật. Ngược lại, mỗi đảng viên càng phải tự giác giữ gìn sự liêm chính, phân định rõ lợi ích riêng với trách nhiệm được giao, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội. Uy tín của người đảng viên không được quyết định bởi quy mô tài sản, mà bởi cách tạo ra tài sản và trách nhiệm đối với cộng đồng.
3. Mở rộng quyền phải đi đôi với kiểm soát xung đột lợi ích
Một điểm quan trọng của Quy định số 224-QĐ/TW là phân định quyền và giới hạn theo vị trí, chức trách, nhiệm vụ và nguy cơ phát sinh xung đột lợi ích. Đảng viên hoạt động ngoài khu vực công có điều kiện khác với cán bộ, công chức, viên chức; người giữ chức vụ quản lý hoặc có quyền quyết định trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động kinh doanh cũng không thể được áp dụng hoàn toàn giống người không có quyền hạn tương tự. Chẳng hạn, một người sử dụng vốn riêng để đầu tư vào lĩnh vực không liên quan đến nhiệm vụ công tác khác với người trực tiếp tham mưu, cấp phép, quản lý hoặc kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp mà mình có lợi ích. Trong trường hợp thứ hai, nguy cơ lợi ích riêng tác động đến tính khách quan trong thực thi công vụ cần được nhận diện và phòng ngừa ngay cả khi chưa xảy ra vi phạm. Vì thế, kiểm soát xung đột lợi ích không thể chỉ căn cứ vào việc đảng viên có đứng tên sở hữu doanh nghiệp hay không. Cần xem xét ai thực sự có quyền quyết định, ai chi phối hoạt động, ai hưởng lợi và những mối liên hệ đó có liên quan đến nhiệm vụ được giao hay không. Nếu chỉ quản lý trên giấy tờ mà bỏ qua bản chất của quan hệ lợi ích, quy định có thể bị vô hiệu hóa bởi việc đứng tên hộ, ủy quyền hoặc những thỏa thuận không minh bạch. Việc xác định rõ hoạt động được thực hiện, hoạt động phải đáp ứng điều kiện hoặc được chấp thuận và hoạt động bị nghiêm cấm giúp đảng viên có căn cứ thực hiện, tổ chức đảng có cơ sở xem xét, đồng thời tạo điều kiện phát hiện sớm nguy cơ vi phạm. Mục tiêu không chỉ là xử lý khi sai phạm đã xảy ra, mà quan trọng hơn là ngăn ngừa những điều kiện có thể dẫn đến sai phạm.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên trong lực lượng vũ trang, yêu cầu này càng cần được thực hiện nghiêm túc. Riêng lực lượng Công an nhân dân, hoạt động đầu tư, kinh doanh phải tuân thủ đúng giới hạn áp dụng đối với lực lượng vũ trang; tuyệt đối không sử dụng bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin nghiệp vụ, dữ liệu, tài sản, nhân lực hoặc nguồn lực của đơn vị để phục vụ lợi ích kinh tế riêng. Hoạt động kinh doanh cũng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Như vậy, mở rộng quyền không đồng nghĩa với xóa bỏ giới hạn. Quyền kinh doanh hợp pháp phải được bảo vệ, nhưng quyền lực công phải được kiểm soát. Đây là điều kiện để người kinh doanh chân chính được hoạt động trong môi trường minh bạch, đồng thời ngăn chặn việc biến vị trí công tác thành công cụ tạo lợi thế cạnh tranh không bình đẳng.
4. Khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển và củng cố niềm tin
Khi được thực hiện hiệu quả, Quy định số 224-QĐ/TW có thể góp phần huy động thêm vốn, kinh nghiệm quản lý, tri thức chuyên môn và năng lực đổi mới sáng tạo cho nền kinh tế. Những nguồn lực ấy có thể được chuyển hóa thành dự án đầu tư, cơ sở sản xuất, sản phẩm, dịch vụ, công nghệ và việc làm; qua đó đóng góp vào ngân sách, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện đời sống người dân. Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng có vai trò lớn đối với tăng trưởng, việc tạo điều kiện để tri thức chuyên môn được ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa có ý nghĩa thiết thực. Kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ và tài sản trí tuệ sẽ phát huy giá trị tốt hơn khi có cơ chế phù hợp để kết nối với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, không nên mặc nhiên cho rằng cứ mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên thì tự động tạo ra tăng trưởng. Kết quả phụ thuộc vào năng lực của người tham gia, chất lượng môi trường kinh doanh, sự minh bạch trong thực thi và mức độ tuân thủ pháp luật. Vì vậy, hiệu quả cần được đánh giá qua những đóng góp thực chất: giá trị sản xuất, việc làm bền vững, nghĩa vụ thuế, đổi mới công nghệ và trách nhiệm với người lao động, thay vì chỉ nhìn vào số lượng đảng viên tham gia kinh doanh. Một môi trường kinh doanh lành mạnh phải bảo đảm người có năng lực được phát huy, người tuân thủ pháp luật được bảo vệ và người vi phạm bị xử lý. Nếu người kinh doanh chân chính phải chịu những hạn chế không có căn cứ, trong khi người lợi dụng chức vụ, quyền hạn lại tìm được cách trục lợi, mục tiêu khơi thông nguồn lực sẽ khó đạt được. Ngược lại, nếu chỉ khuyến khích mà xem nhẹ kiểm soát, nguy cơ hình thành lợi thế không bình đẳng và nhóm lợi ích sẽ làm tổn hại môi trường đầu tư.
Quy định vì vậy còn có ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân. Một đảng viên làm kinh tế bằng năng lực, giữ chữ tín, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, tôn trọng người lao động và đóng góp cho cộng đồng có thể tạo dựng niềm tin bằng chính hành động của mình. Trái lại, người lợi dụng tư cách đảng viên hoặc chức vụ để trục lợi sẽ làm tổn hại không chỉ danh dự cá nhân mà còn ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức. Phát huy nguồn lực của đảng viên và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh vì thế không phải hai nhiệm vụ đối lập. Hai nhiệm vụ này có thể hỗ trợ nhau khi hoạt động kinh tế được đặt trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức và trách nhiệm chính trị; tổ chức đảng vừa bảo vệ quyền hợp pháp, vừa kiên quyết xử lý vi phạm; công tác kiểm tra, giám sát tập trung vào thực chất chứ không chỉ dừng ở hồ sơ, hình thức.
5. Để chủ trương đúng đi vào cuộc sống
Để Quy định số 224-QĐ/TW phát huy hiệu quả, trước hết cần quán triệt thống nhất, giúp đảng viên hiểu rõ quyền, giới hạn và trách nhiệm của mình. Hướng dẫn thực hiện cần cụ thể, dễ áp dụng, nhất là đối với những trường hợp có nguy cơ xung đột lợi ích cao. Các tổ chức đảng phải thực hiện đúng thẩm quyền, không tùy tiện đặt thêm điều kiện hạn chế quyền hợp pháp, nhưng cũng không xem xét hình thức hoặc chấp thuận thiếu căn cứ. Công tác kiểm tra, giám sát cần chú trọng bản chất hoạt động và lợi ích kinh tế thực tế, làm rõ mối liên hệ giữa việc đầu tư, kinh doanh với nhiệm vụ được giao. Nguy cơ xung đột lợi ích phải được nhận diện, xử lý kịp thời; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thông tin hoặc nguồn lực công để trục lợi phải bị xử lý nghiêm minh. Đồng thời, cần ghi nhận những đảng viên kinh doanh chân chính, có sáng kiến, tạo việc làm và đóng góp thiết thực cho xã hội. Việc thực hiện cũng phải bảo đảm thống nhất giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Sự chấp thuận của tổ chức đảng không thay thế các điều kiện pháp luật đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh; ngược lại, việc pháp luật cho phép cũng không làm mất đi những giới hạn mà đảng viên phải tuân thủ theo quy định của Đảng.
Quy định số 224-QĐ/TW gửi đi một thông điệp rõ ràng: Đảng khuyến khích đảng viên phát huy năng lực, sử dụng nguồn lực hợp pháp để phát triển kinh tế và đóng góp cho đất nước; đồng thời kiên quyết giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kiểm soát quyền lực và ngăn chặn mọi biểu hiện vụ lợi. Làm giàu chính đáng cần được khuyến khích; lợi dụng quyền lực để làm giàu bất chính phải bị ngăn chặn. Quyền kinh doanh hợp pháp cần được bảo vệ; kỷ luật của Đảng và lợi ích của Nhân dân phải được giữ vững. Khi hai yêu cầu ấy được thực hiện nghiêm túc, nguồn lực của mỗi đảng viên sẽ có thêm điều kiện đóng góp cho sự phát triển đất nước, còn uy tín của Đảng được củng cố bằng những hành động cụ thể, thiết thực và có trách nhiệm.
Vũ Quyên