CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Phản bác luận điệu cho rằng thành lập thêm thành phố trực thuộc Trung ương là “Dồn ngân sách, ưu ái địa phương giàu”
18/08/2026 16:21144 Lượt xem

 
Ảnh: Các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tại phiên họp (Nguồn ảnh: VOV.VN)
 
Trong quá trình phát triển đất nước, tổ chức không gian phát triển phù hợp với yêu cầu mới là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Khi quy mô nền kinh tế, mức độ đô thị hóa, kết cấu hạ tầng và các mối liên kết vùng ngày càng phát triển, việc điều chỉnh không gian hành chính gắn với tổ chức lại không gian kinh tế - xã hội là yêu cầu khách quan, nhằm phát huy tốt hơn tiềm năng, lợi thế, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo động lực tăng trưởng mới.
Thực hiện định hướng đó, ngày 24/7/2026, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV của Đảng đã đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương, giao Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng ủy Chính phủ hoàn thiện Đề án, hồ sơ theo quy định, trình Quốc hội khóa XVI xem xét, quyết định tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 52-KL/TW ngày 20/6/2026 thống nhất chủ trương thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh; Chính phủ cũng đã thông qua hồ sơ Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương tại Nghị quyết số 202/NQ-CP ngày 27/7/2026.
Đây là chủ trương có cơ sở từ yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển, phát huy lợi thế từng vùng, hình thành các cực tăng trưởng và tăng cường liên kết vùng. Tuy nhiên, lợi dụng sự quan tâm của dư luận, đã xuất hiện luận điệu cho rằng việc thành lập thêm các thành phố trực thuộc Trung ương thực chất là Nhà nước “dồn ngân sách, ưu ái thành phố giàu”, khiến những địa phương này “hút” đầu tư, nhân lực và nguồn lực của nơi khác, từ đó làm gia tăng khoảng cách và gây mất cân đối phát triển.
Đây là cách nhìn phiến diện, bởi đã đánh đồng tổ chức lại không gian phát triển với ưu ái địa phương, đánh đồng tập trung nguồn lực có trọng điểm với dồn ngân sách, và đánh đồng sức hút của một cực tăng trưởng với việc hút kiệt nguồn lực của các địa phương khác.
Để nhận diện đúng bản chất của chủ trương và bác bỏ những nhận định phiến diện nêu trên, cần nhìn nhận vấn đề trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Một là, không thể đồng nhất việc thành lập thành phố trực thuộc Trung ương với việc được “dồn ngân sách, ưu ái nguồn lực”.
Đây là điểm cần bác bỏ ngay từ tiền đề. Địa vị hành chính không phải là cơ chế tự động làm phát sinh một khoản “ngân sách ưu đãi” cho địa phương. Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 quy định ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo, thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được ngân sách; ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi để chủ động thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Mặt khác, việc thành lập đơn vị hành chính mới phải được xem xét trên cơ sở các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định pháp luật. Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 quy định tiêu chuẩn của thành phố, trong đó bao gồm quy mô dân số, diện tích, tỷ lệ đô thị hóa, vị trí và chức năng trong quy hoạch, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách. Vì vậy, không thể biến một quyết định về tổ chức đơn vị hành chính thành suy luận giản đơn rằng “cứ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương là được Nhà nước rót thêm tiền”.
Quan trọng hơn, phải phân biệt đầu tư trên địa bàn một địa phương với phạm vi hưởng lợi của khoản đầu tư đó. Một tuyến giao thông liên vùng, một trung tâm logistics, một cảng biển hay hạ tầng số dù đặt tại một địa phương nhưng có thể phục vụ doanh nghiệp, người dân và các chuỗi sản xuất của cả khu vực. Nếu chỉ nhìn vào địa giới hành chính nơi công trình được đầu tư rồi kết luận đó là “ưu ái”, thì đã bỏ qua giá trị lan tỏa của chính công trình ấy.

Hai là, không thể quy việc lựa chọn Bắc Ninh, Quảng Ninh thành “thưởng cho địa phương giàu”.
Một nền kinh tế không thể phát triển bằng tư duy cào bằng nguồn lực. Mỗi địa phương có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển, kết cấu hạ tầng và lợi thế cạnh tranh khác nhau. Tổ chức không gian phát triển hợp lý phải dựa vào những khác biệt đó để tạo ra sức mạnh tổng hợp.
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định rõ định hướng phát triển các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia quan trọng để hình thành các đầu tàu lôi kéo sự phát triển của quốc gia, đồng thời hình thành các hành lang kinh tế kết nối cảng biển, sân bay, cửa khẩu, đô thị, trung tâm kinh tế và các cực tăng trưởng. Quy hoạch cũng nhấn mạnh việc phát triển cơ chế, chính sách phù hợp đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để bảo đảm cơ hội phát triển.
Như vậy, lựa chọn những địa bàn có điều kiện thuận lợi để trở thành không gian phát triển lớn hơn không phải là “ưu ái nơi giàu”, mà là phát huy những lợi thế đã hình thành để tạo thêm động lực cho nền kinh tế. Chính sách phát triển có trọng điểm không phủ nhận yêu cầu công bằng; ngược lại, nếu được đặt trong quy hoạch và cơ chế liên kết vùng phù hợp, đó là phương thức sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.

Ba là, luận điệu cho rằng các thành phố mới sẽ “hút hết” đầu tư, nhân lực và nguồn lực của địa phương khác đã nhìn dòng chảy phát triển theo một chiều.
Đây là điểm cần nhìn nhận một cách thuyết phục. Một cực tăng trưởng phát triển tất nhiên có sức hút đối với vốn, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và các dự án đầu tư. Nhưng sức hút không đồng nghĩa với hút kiệt. Trong nền kinh tế hiện đại, nguồn lực không chỉ chảy về trung tâm mà còn tạo ra những dòng lan tỏa thông qua chuỗi cung ứng, thị trường, việc làm, dịch vụ, logistics và hệ thống hạ tầng. Một trung tâm công nghiệp công nghệ cao cần doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Một cảng biển phát triển kéo theo nhu cầu logistics, vận tải, kho bãi và dịch vụ. Một đô thị lớn mở rộng thị trường tiêu dùng, du lịch, giáo dục, y tế và các dịch vụ chất lượng cao. Những nhu cầu đó tạo thêm không gian cho doanh nghiệp ở các địa phương khác tham gia.
Trong nền kinh tế liên kết, sự gia tăng quy mô của một cực tăng trưởng không nhất thiết làm giảm nguồn lực của các địa phương khác. Ngược lại, khi các trung tâm kinh tế được kết nối bằng hạ tầng giao thông, logistics, chuỗi cung ứng và thị trường lao động, sự phát triển của một địa phương có thể làm gia tăng nhu cầu về nguyên liệu, dịch vụ, lao động, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và các hoạt động logistics tại những địa bàn liên kết. Vì vậy, cần nhìn nhận nguồn lực trong trạng thái vận động và liên kết, thay vì coi đó là một lượng cố định chỉ có thể dịch chuyển từ địa phương này sang địa phương khác.
Nói cách khác, nguồn lực tập trung ở một cực tăng trưởng không chỉ tạo ra giá trị tại nơi tập trung mà còn có thể tạo ra giá trị lan tỏa cho cả mạng lưới phát triển.
Quy hoạch tổng thể quốc gia xác định việc phát triển các hành lang kinh tế gắn với các vùng động lực quốc gia nhằm thúc đẩy tăng trưởng và tạo hiệu ứng lan tỏa, qua đó tăng cường liên kết giữa các trung tâm kinh tế, các đô thị, các cực tăng trưởng và các khu vực xung quanh. Bởi vậy, vấn đề không phải là ngăn một địa phương phát triển vì lo ngại “hút lực”, mà là tổ chức liên kết như thế nào để sức hút của một trung tâm trở thành sức lan tỏa của cả vùng.

Bốn là, không thể đồng nhất phát triển có trọng điểm với phát triển lệch lạc, càng không thể đồng nhất cân đối với cào bằng.
Một quốc gia phát triển không phải là quốc gia trong đó mọi địa phương có cùng quy mô kinh tế, cùng tốc độ tăng trưởng hay nhận được lượng nguồn lực giống nhau. Cân đối hợp lý phải được hiểu là mỗi địa phương phát huy đúng lợi thế, các vùng được kết nối chặt chẽ, đồng thời có cơ chế hỗ trợ những khu vực còn khó khăn tiếp cận nguồn lực và cơ hội phát triển.
Quy hoạch tổng thể quốc gia thể hiện rất rõ tư duy này: bên cạnh việc phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng, quy hoạch đồng thời yêu cầu có cơ chế, chính sách phù hợp đối với vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; quan tâm đầu tư các khu vực khó khăn, bảo đảm tiếp cận bình đẳng nguồn lực và cơ hội phát triển.
Do đó, phát triển có trọng điểm và bảo đảm cân đối vùng miền không phải hai mục tiêu đối lập, mà là hai mặt của cùng một chiến lược. Cái cần tránh không phải là tập trung nguồn lực, mà là tập trung thiếu quy hoạch, đầu tư không hiệu quả, thiếu liên kết và không tạo được sức lan tỏa.

Năm là, thực tiễn Bắc Ninh và Quảng Ninh cho thấy rõ hơn mục tiêu hình thành những không gian có khả năng tạo động lực phát triển.
 

Nguồn ảnh: Báo Dân Việt
 
Đối với Bắc Ninh, Kết luận số 52-KL/TW của Bộ Chính trị xác định định hướng xây dựng thành phố Bắc Ninh xanh, thông minh, hiện đại, văn minh, giàu đẹp; lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng chủ yếu; phát triển công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, hướng tới hình thành trung tâm công nghiệp điện tử với trọng tâm là bán dẫn, sản xuất vi mạch và trí tuệ nhân tạo hàng đầu cả nước và khu vực.
Với Quảng Ninh, ngày 7/4/2026, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 20-KL/TW, đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh hiện nay. Đây là chủ trương có cơ sở từ vị trí, tiềm năng và vai trò động lực phát triển của Quảng Ninh. Với lợi thế về kinh tế biển, cảng biển, logistics, công nghiệp, du lịch và kết nối quốc tế, Quảng Ninh có những lợi thế nổi bật và nền tảng phát triển quan trọng để đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí đặt ra đối với thành phố trực thuộc Trung ương. Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định hành lang kinh tế Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh là một trong những hành lang kinh tế ưu tiên, kết nối các trung tâm kinh tế, cảng biển và không gian phát triển quan trọng của phía Bắc.
Đặt Bắc Ninh và Quảng Ninh trong không gian đó sẽ thấy rõ: mục tiêu không phải tạo ra những “ốc đảo giàu có”, mà là tái cấu trúc không gian phát triển để các lợi thế về công nghiệp, công nghệ, kinh tế biển, logistics, thương mại và kết nối quốc tế được phát huy ở quy mô lớn hơn.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định luận điệu cho rằng thành lập thêm các thành phố trực thuộc Trung ương là “dồn ngân sách, ưu ái thành phố giàu, hút đầu tư, hút nhân lực của địa phương khác, làm gia tăng khoảng cách và mất cân đối phát triển” đã đánh tráo bản chất của chủ trương. Tập trung nguồn lực có trọng điểm bị biến thành “dồn ngân sách”; hình thành cực tăng trưởng bị biến thành “hút kiệt nguồn lực”; tổ chức lại không gian phát triển bị biến thành “ưu ái địa phương giàu”.
Thực chất, vấn đề không phải Nhà nước “dồn nguồn lực cho ai”, mà là tổ chức nguồn lực quốc gia như thế nào để tạo ra giá trị lớn hơn và sức lan tỏa rộng hơn. Không phải địa phương này phát triển thì địa phương khác nhất thiết phải kém đi. Nếu một cực tăng trưởng được quy hoạch đúng, kết nối tốt và vận hành hiệu quả, sự phát triển của nó có thể trở thành động lực mở rộng thị trường, tạo việc làm, thúc đẩy chuỗi cung ứng, nâng cấp hạ tầng và gia tăng cơ hội phát triển cho cả vùng.
Vì vậy, không thể lấy tư duy cào bằng để phủ nhận yêu cầu tập trung nguồn lực có trọng điểm; càng không thể lấy sự khác biệt về trình độ phát triển giữa các địa phương để quy kết một chủ trương tổ chức lại không gian phát triển thành chính sách “ưu ái người giàu”. Điều cần hướng tới là một không gian phát triển được tổ chức khoa học hơn, các cực tăng trưởng được kết nối chặt chẽ hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn và thành quả phát triển được lan tỏa rộng hơn. Đó mới là bản chất của chủ trương thành lập thêm thành phố trực thuộc Trung ương: không phải để một địa phương giàu lên bằng cách làm địa phương khác nghèo đi, mà để tạo thêm những động lực phát triển mới, kết nối các nguồn lực và cùng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững.
 
   Vũ Thị Quyên

Liên kết